Giới thiệu

Tổng quan vùng Tây Bắc

Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc. Vùng này có khi được gọi là Tây Bắc Bắc Bộ và là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng).

Địa lý

  • Không gian địa lý: Không gian địa lý của vùng Tây Bắc hiện còn chưa được nhất trí. Một số ý kiến cho rằng đây là vùng phía Nam (hữu ngạn) sông Hồng. Một số ý kiến lại cho rằng đây là vùng phía Nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn.
  • Đặc điểm địa hình: Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2800 đến 3000 m. Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên 1800 m. Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà). Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suối gồm cả thượng lưu sông Mã. Trong địa máng sông Đà còn có một dãy cao nguyên đá vôi chạy suốt từ Phông Thổ đến Thanh Hóa, và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản. Cũng có các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh.
Vùng Tây Bắc có hai con sông lớn, đó là sông Đà và sông Thao (tức sông Hồng). Thượng nguồn của sông Mã cũng ở trên vùng đất Tây Bắc.

Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh là các bồn địa ở Tây Bắc. Còn Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản là các cao nguyên ở đây.

Hành chính
Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc bao gồm các
 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Lào Cai. 

(Dư địa chí Tây Bắc)
 

Vị trí vùng Tây Bắc trên bản đồ miền Bắc Việt Nam
       Vị trí vùng Tây Bắc trên bản đồ miền Bắc Việt Nam
 
         

Các sắc tộc và Văn hóa

Về cơ bản, vùng Tây Bắc là không gian văn hóa của dân tộc Thái, nổi tiếng với điệu múa xòe. Thái là dân tộc có dân số lớn nhất vùng. Ngoài ra, còn khoảng 20 dân tộc khác.

Lịch sử

Tại vùng Tây Bắc thời Pháp thuộc đã lập ra xứ Thái tự trị. Năm 1955 Khu tự trị Thái-Mèo được thành lập, gồm 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ, và đến năm 1962 gọi là Khu tự trị Tây Bắc. Khu tự trị này giải thể năm 1975.

Quân sự

Vùng Tây Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng Tây Bắc do Quân khu 2bảo vệ.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây đã diễn ra nhiều trận đánh và chiến dịch quân sự ác liệt mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngoài ra còn có trận Nà Sản cũng trong thời kì Chiến tranh Đông Duơng.

Điều kiện Khí hậu


      Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhưng sự biểu hiện của nó không giống nhau theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng. Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngăn không cho gió mùa đông (hướng đông bắc - tây nam) vượt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùng Đông bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam.
     Vì vậy, trừ khi do ảnh hơởng của độ cao, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc, chênh lệch có thể đến 2-3 OC. ở miền núi, hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườn đón gió (sườn đông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi sườn tây tạo điều kiện cho gió "phơn" (hay quen được gọi là "gió lào") được hình thành khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc. Nhìn chung, trong điều kiện của trung du và miền núi, việc nghiên cứu khí hậu là rất quan trọng vì sự biến dạng của khí hậu xẩy ra trên từng khu vực nhỏ. Những biến cố khí hậu ở miền núi ang tính chất cực đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủ thổ nhưỡng bị thoái hoá. Mưa lớn và tập trung gây ra lũ nhưng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ quét; hạn vào mùa khô thường xảy ra nhưng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối.

Nông, Lâm, ngư nghiệp

Tây Bắc là vùng có đất đai tương đối rộng, thổ nhưỡng phong phú, có tiềm năng lớn để phát triển nông, lâm, ngư nghiệp. Đặc biệt thích ứng cho phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, ôn đới, các loại rau, củ, quả vùng cao như: gạo, đặc sản, ngô, đậu tương, chè San Tuyết, bưởi, hồng, thảo quả, quế, táo, lê và chăn nuôi trâu, bò, dê.
Thời gian qua, mặc dù hạn hán xảy ra liên tục trên diện rộng hàng năm, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn tiếp tục phát triển, sản lượng lương thực tăng khá, gia cầm phát triển ổn định, việc trồng rừng sản xuất, chương trình phát triển cây cao su ở một số tỉnh trong vùng được triển khai tích cực, sản xuất nông nghiệp phục hồi rõ nét. Đến nay, hầu hết các tỉnh tự cân đối được nhu cầu lương thực.
Hiện đã hình thành được một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung: (i) chè: 86 nghìn ha, sản lượng 400 nghìn tấn/năm (tại Yên Bái, Sơn La); (ii) cây ăn quả: 180 nghìn ha; (iii) cao su: sau thời gian thí điểm từ năm 2007 – 2009 đã trồng đại trà tại Vùng Tây Bắc với gần 16 nghìn ha, hết năm 2010 đạt khoảng 42 nghìn ha - điều này đã mở ra hướng đi mới cho Vùng.


Phân tích lợi thế so sánh của vùng
1. Lợi thế
     Tây Bắc là Vùng có nguồn tài nguyên phong phú, có tiềm năng nhất nước ta về đất đai, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản với các mỏ có giá trị như apatit, sắt, đá vôi, đất hiếm, đa kim, đa khoáng... và thuỷ điện – đây là lợi thế để phát triển các ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, thuỷ điện, sản xuất giấy, sản xuất xi măng, chế biến gỗ.
     Vùng Tây Bắc có nhiều hang động, phong cảnh đẹp, thuận lợi phát triển du lịch, du lịch sinh thái.
     Khu vực này có chung biên giới hai quốc gia, do vậy đây là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thương.
     Vùng có địa hình đa dạng, có quỹ đất chưa sử dụng còn lớn cùng với các vùng tiểu khí hậu nhiệt đới và ôn đới để phát triển đa dạng nông nghiệp cho phép phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi rất đa dạng và phong phú, trong đó có những loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao, có thể đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản.
    Trong thời gian qua, Vùng Tây Bắc được Đảng, Chính phủ quan tâm đặc biệt và có nhiều chính sách đầu tư, ưu đãi nhằm nâng cao đời sống kinh tế-xã hội. Thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã giành một khối lượng vốn khá lớn tập trung vào vùng, thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 135, các dự án Quốc gia, các dự án sử dụng trái phiếu Chính phủ, công trái giáo dục, các hỗ trợ có mục tiêu khác và thông qua các dự án, chương trình trong chương trình hành động của Chính phủ. Nhiều dự án quốc gia đã và đang triển khai đầu tư tại đây – là tiền đề cho việc phát triển Vùng.
     Các địa phương trong vùng Tây Bắc thuộc Danh mục các địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, do vậy các doanh nghiệp đầu tư tại các địa phương trong vùng được hưởng những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cũng như thuê đất, ngoài ra nhận được sự hỗ trợ tích cực của các cấp chính quyền địa phương trong quá trình cấp giấy chứng nhận đầu tư và thực hiện dự án.
 
2. Khó Khăn và thư thách

     Vùng Tây Bắc có địa hình phân tầng lớn, chia cắt mạnh đặt ra thách thức lớn: suất đầu tư hạ tầng lớn; việc quy hoạch bố trí dân cư, cũng như xây dựng các KCN tập trung, Khu đô thị quy mô lớn, hiện đại gặp nhiều khó khăn; việc mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp để tạo ra các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá theo hướng CNH, HĐH cũng rất khó thực hiện.
     Khí hậu khu vực Tây Bắc tương đối khắc nghiệt, mùa đông thường lạnh và khô, ảnh hưởng khá lớn đến cơ cấu mùa vụ và sự sinh trưởng của các loại cây trồng.
     Là vùng có địa hình núi cao, giao thông đi lại giữa các địa phương còn nhiều khó khăn. Hệ thống đường sắt cũ, năng lực vận chuyển hàng hóa, hành khách bị hạn chế đặc biệt là tuyến Hà Nội - Lào Cai. Hiện nay việc vận chuyển hàng hóa chủ yếu thông qua đường sắt và đường bộ do hạn chế về giao thông đường thủy và đường hàng không. Và bất cập về cơ sở hạ tầng giao thông đang là một rào cản lớn đối với môi trường đầu tư tại vùng, làm tăng chi phí sản phẩm, giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
     Tây Bắc là vùng có xuất phát điểm thấp trong cả nước, hầu hết là đều thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao, nên đời sống của người dân còn khó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèo cao so với các Vùng trong cả nước (năm 2009 là 24%), nên sức mua thấp.